Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Xuất huyết bàng quang ở trẻ nhỏ

(Lâm Hoàng Thanh - Cà Mau)

Chúng ta biết có rất nhiều nguyên nhân gây viêm bàng quang xuất huyết và việc chẩn đoán bệnh không quá khó nếu có triệu chứng đái ra máu, tuy nhiên việc xác định ra nguyên nhân có thể không dễ dàng nhất là ở trẻ nhỏ. Với triệu chứng đái ra máu cùng với thay đổi tổng trạng và triệu chứng kích thích bàng quang (đái nhiều lần, đái gắt, đái buốt…) thì có thể xác định viêm bàng quang xuất huyết.

Xuất huyết bang quang ở trẻ nhỏ

Cần phải làm xét nghiệm nước tiểu để xác định chính xác mức độ đái máu và có thể cần để tìm virút, vi khuẩn (qua đó có thể làm kháng sinh đồ nhằm chọn lựa kháng sinh điều trị phù hợp). Xét nghiệm máu để xác định hiện tượng viêm nhiễm và qua đó loại trừ đái ra máu do rối loạn đông máu. Dùng siêu âm khảo sát hình ảnh của hệ tiết niệu và tổn thương ở bàng quang. Soi bàng quang là một xét nghiệm luôn được khuyến cáo vì giúp xác định rõ ràng thương tổn bàng quang (khu trú hay lan tỏa), tình trạng cục máu đông, mức độ xuất huyết …

Việc điều trị viêm bàng quang xuất huyết bao gồm điều trị nguyên nhân và điều trị triệu chứng. Để điều trị được nguyên nhân phải xác định chính xác nguyên nhân gây viêm bàng quang như đã nêu ở trên. Điều trị triệu chứng bao gồm hạ sốt, giảm đau, kháng viêm và quan trọng là chảy máu bàng quang. Trong trường hợp chảy máu nặng không cầm được bằng nội khoa phải phẫu thuật (thắt động mạch hạ vị chọn lọc, đưa bàng quang ra ngoài và đóng tạm thời…). Ở trẻ nhỏ việc phẫu thuật can thiệp hiếm khi được thực hiện do có nhiều biến chứng nguy hiểm. Thường là đặt sond bơm rửa bàng quang bằng nước muối sinh lý hoặc natri bạc 1% để cầm máu, ở trẻ nhỏ cần bù đủ nước để đào thải nhanh cục máu đông. Tất nhiên phải dùng kháng sinh trong trường hợp tác nhân là vi khuẩn, tốt nhất là chọn lựa kháng sinh theo kháng sinh đồ.

BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ

Trẻ nhỏ dễ còi xương, phòng ngừa thế nào?

Còi xương là một bệnh phổ biến ở trẻ em. Tỷ lệ mắc bệnh ở lứa tuổi dưới 2 năm là 10-20% nhưng ở 3-6 tháng có thể lên đến 35%. Nguyên nhân đưa đến còi xương ở lứa tuổi dưới 6 tháng chủ yếu là do bé không được cung cấp đầy đủ vitamin D. Nếu trẻ nuôi bằng sữa mẹ thì chính là do chế độ ăn của người mẹ cho con bú không đủ vitamin D.

Một yếu tố quan trọng nữa là vai trò của tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời kích hoạt chất tiền vitamin D3 dưới da chuyển thành vitamin D3 được hấp thụ vào máu dẫn đến giảm hấp thu canxi ở ruột, cơ thể phải huy động canxi ở xương vào máu, gây rối loạn quá trình khoáng hóa xương. Vì vậy khi điều trị còi xương bằng vitamin D cần bổ sung canxi để giúp xương phát triển bình thường.

Các biến chứng do còi xương ở trẻ em.

Vitamin D có ở đâu?

Các chất tiết của da ở người chứa một chất gọi là tiền vitamin D3. Trong điều kiện bình thường chất tiền vitamin này được hoạt hoá bởi các tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời và chuyển thành vitamin D3 được hấp thu vào máu. Tuy nhiên, nếu ánh sáng mặt trời chiếu qua lớp kính cửa thông thường sẽ bị cản mất tia tử ngoại nên không còn có khả năng chống bệnh còi xương. Trong thức ăn tự nhiên của trẻ còn bú chỉ chứa những lượng nhỏ vitamin D, sữa mẹ có rất ít vitamin D và sữa bò chỉ có 5-40 đơn vị quốc tế trong 1,135 lít. Ngũ cốc, rau quả chỉ chứa lượng không đáng kể. Trong 1g lòng đỏ trứng có từ 140-390 đơn vị quốc tế vitamin D. Ngoài nguyên nhân thiếu vitamin D do chế độ ăn hoặc do da không nhận được tia tử ngoại (nhất là mùa đông xuân miền Bắc nước ta ít nắng) còn có nhiều yếu tố khác khiến bệnh còi xương dễ xuất hiện như ở thời kỳ lớn nhanh của tuổi còn bú, trẻ đẻ non hoặc tuổi dậy thì. Những trẻ em có rối loạn hấp thu như tiêu chảy kéo dài, bệnh viêm tụy, bệnh đại tiện mỡ hoặc bệnh xơ nang có thể mắc bệnh còi xương vì không hấp thu được vitamin D hay canxi hoặc không hấp thu được cả hai loại này. Ở những trẻ có bệnh gan (đặc biệt là tắc mật hay xơ gan), bệnh còi xương cũng có thể xuất hiện vì nó không có năng lực hấp thu vitamin D hay canxi.

Nhận biết trẻ còi xương

Bệnh còi xương do cung cấp thiếu vitamin D trong chế độ ăn hằng ngày trở nên hiếm, nhất là các nước công nghiệp phát triển, nên phần lớn các bệnh còi xương hiện nay là do nguồn gốc nội sinh tức là kháng lại vitamin D liều lượng thông thường (400 - 1.000 đơn vị quốc tế trong một ngày). Bệnh còi xương kháng vitamin D thường xuất hiện kết hợp với nhiều rối loạn phức tạp. Phần lớn là những bệnh có tính di truyền. Nói chung bệnh còi xương kháng vitamin D này biểu hiện như một bệnh còi xương muộn. Bệnh này thường bộc lộ sau lứa tuổi bú mẹ, từ 3-7 tuổi, đứa trẻ có tầm vóc lùn và có những biến dạng ở các chi như chân hoặc tay ở tư thế cong vào (hình chữ O), hay cong ra (hình chữ X). Những hiện tượng này ngày càng rõ nếu đứa trẻ càng vận động nhiều. Có nhiều trường hợp tự nhiên đứa trẻ bị liệt, không thể đi đứng được vì các xương, nhất là các xương đùi, xương cẳng tay, xương cánh tay, cẳng chân, đôi khi cả xương chậu nữa đã bị gãy tại nhiều đoạn do xương quá mềm và thiếu chất vôi. Trường hợp gãy xương không do chấn thương này gọi là gãy xương bệnh lý.

Ðiều trị thế nào?

Điều trị bệnh còi xương phải dùng vitamin D liều cao, liều tấn công theo chỉ định của bác sĩ. Còn liều dự phòng chỉ uống vitamin D từ 400-800 đơn vị/ngày trong vòng 1 năm. Trường hợp còi xương bệnh lý có thể dùng liều rất cao tới 5.000-50.000 đơn vị/ngày trong nhiều tháng, đồng thời phải kết hợp với giải phẫu chỉnh hình nếu có biến dạng xương.

Có thể phòng ngừa còi xương cách nào?

Còi xương là bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa được. Tất cả các bà mẹ đang cho con bú (dưới 6 tháng) đặc biệt là trong mùa đông xuân, nhu cầu vitamin D ước lượng chừng 500 đơn vị quốc tế mỗi ngày. Trong điều kiện có thể nên nhất loạt cho mỗi trẻ, từ tuần thứ 2 sau khi sinh trở đi mỗi ngày 400 đơn vị quốc tế vitamin D dưới dạng đậm đặc, ít ra là trong 6-12 tháng đầu.

Với trẻ đẻ thấp cân dễ bị còi xương là do cơ thể không dự trữ đủ canxi và vitamin D trong thời kỳ bào thai, đồng thời hệ thống men tham gia chuyển hóa vitamin D còn yếu, vì vậy những trẻ này cần được bổ sung vitamin D và canxi để phòng bệnh còi xương.

BS. Trần Kim Anh

Khó thở là bệnh gì?

Nói đến khó thở là mọi người nghĩ ngay đến bệnh của đường hô hấp, nhưng không ít trường hợp bệnh cảnh lại xảy ra ở một cơ quan khác trong cơ thể.

Một số nguyên nhân

Bệnh đường hô hấp gây khó thở gặp nhiều nhất là hen phế quản (viêm phế quản thể hen, hen suyễn).

Hen suyễn là một bệnh có thể cấp tính hoặc mạn tính, gặp ở mọi lứa tuổi. Hen suyễn thường thuộc bệnh dị ứng và kèm theo viêm phế quản. Khó thở trong hen suyễn thường khó thở ra. Khi lên cơn khó thở có kèm theo tiếng rít (do co thắt phế quản) và xuất tiết đường hô hấp gây ho, có đờm. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng mỗi khi thời tiết thay đổi hoặc gặp yếu tố thuận lợi (dị ứng nguyên) thì cơn hen xuất hiện. Hen suyễn cũng dễ nhầm lẫn với đợt cấp của bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, bởi vì bệnh này khi lên cơn cấp tính cũng gây khó thở, khò khè, ho. Ho có đàm đặc, màu vàng, xanh, ho thường trên 3 tháng/năm.

Bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính lúc đầu chỉ khó thở nhẹ nhưng càng ngày càng nặng, môi tím, mệt mỏi. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi và có tiền sử nghiện thuốc lá, thuốc lào.

Trong bệnh giãn phế quản cũng làm cho người bệnh khó thở, đặc biệt là khó thở do tràn khí màng phổi do bệnh giãn phế quản. Khó thở khi hít vào và thường xảy ra sau một cơn đau ngực dữ dội, mặt xanh, trán vã nhiều mồ hôi.

Bệnh viêm phế quản - phổi cũng gây khó thở, xảy ra một cách từ từ, kèm theo thường là sốt cao. Bệnh hay gặp ở trẻ em (nhất là trẻ còi xương suy dinh dưỡng), người có tuổi và người suy giảm miễn dịch (người mắc bệnh AIDS).

Khó thở cũng gặp ở những người bệnh khí phế thũng, tâm phế mạn. Trong các bệnh này người bệnh khó thở gần như thường xuyên, môi tím (do thiếu dưỡng khí), mệt mỏi…

Dị vật đường thở là một bệnh gây khó thở vào điển hình do không khí khó hoặc rất khó vào phổi vì tắc nghẽn do dị vật. Khó thở do dị vật có thể gặp trong bệnh bạch hầu thanh quản (đây là bệnh bạch hầu ác tính do vi khuẩn Corynebacterium diphterie gây ra). Trong bệnh này do giả mạc phủ kín, đầy niêm mạc thanh quản và khí quản kèm theo phù nề gây khó thở cấp tính phải cấp cứu ngay.

Bệnh lao phổi mạn tính cũng gây khó thở nhất là bệnh lao hang, lao kê hoặc tràn dịch màng phổi do lao (tràn dịch màng phổi có nhiều nguyên nhân đều gây khó thở, trong đó có tràn dịch do lao).

Một số bệnh của phổi như ung thư phổi hoặc áp xe phổi cũng gây khó thở, đôi khi gây khó thở dữ dội.

Khó thở cũng có thể gặp ở bệnh nhân xơ gan cổ trướng do dịch trong ổ bụng nhiều ngăn cản di động của cơ hoành hoặc bệnh suy tim giai đoạn cuối cũng làm cho gan ứ máu, to ra đẩy cơ hoành lên làm cản trở di động của cơ hoành gây khó thở.

Khó thở cũng gặp ở bệnh nhân phù phổi cấp do bệnh của tim như hẹp, hở van tim, van động mạch chủ, tăng huyết áp tim trái…

Ngoài ra người ta thống kê cho thấy một số bệnh như đau dây thần kinh liên sườn, chấn thương lồng ngực, bệnh đường hô hấp trên như viêm amidan, viêm thanh quản hoặc bệnh rối loạn cảm xúc (trầm cảm, lo lắng…) hoặc do urê máu cao, toan máu cũng có khả năng gây khó thở.

Khi khó thở nên làm gì?

Khó thở có thể là cấp tính, có thể là mạn tính. Trong các trường hợp cấp tính như dị vật đường thở, hen suyễn cấp tính, đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tràn khí màng phổi… cần nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu, nếu chần chừ có thể gây nguy hiểm cho tính mạng người bệnh. Nếu khó thở nhẹ, xảy ra từ từ thì cần đưa người bệnh đến khám ở các cơ sở y tế càng sớm càng tốt, đặc biệt là các cơ sở y tế chuyên khoa (chuyên khoa tim mạch, hô hấp, tai mũi họng…). Sau khi khám bệnh, người bệnh nên thực hiện theo đơn thuốc của bác sĩ và các tư vấn kèm theo.

Không nên tự mua thuốc để điều trị, bất luận là thuốc Tây y hay thuốc Đông y hoặc thuốc Nam bởi vì làm như vậy không những bệnh không khỏi mà đôi khi còn làm bệnh nặng thêm, hoặc nguy hiểm thêm, chưa nói đến tốn kém về mặt kinh tế. Cần đi khám bệnh định kỳ theo lời dặn của bác sĩ để được kiểm soát và khống chế bệnh tốt hơn

PGS.TTƯT. BÙI KHẮC HẬU

3 cách giảm nguy cơ mắc ung thư vú

Báo cáo này từ Viện nghiên cứu ung thư Mỹ và Quỹ nghiên cứu ung thư thế giới dựa trên 119 nghiên cứu.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng, tập thể dục đều đặn có liên quan với giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú. Những phụ nữ vận động ở mức vừa phải trong suốt cả ngày có nguy cơ ung thư vú thấp hơn sau khi mãn kinh. Tính chung, phụ nữ có mức hoạt động thể chất hàng ngày nhiều nhất giảm 13% nguy cơ ung thư vú sau mãn kinh so với những phụ nữ ít vận động nhất.

tập thể dục giảm nguy cơ ung thư vú

Những phụ nữ thừa cân khi ở tuổi trưởng thành cũng tăng nguy cơ ung thư vú sau khi mãn kinh. Cứ tăng 5 điểm BMI, nguy cơ ung thư vú tăng 12%. Ngoài ra, tổng quan cũng cho thấy rằng, uống rượu, thậm chí với lượng vừa phải, cũng có liên quan với tăng nguy cơ ung thư vú. Uống một cốc rượu nhỏ mỗi ngày cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú từ 5-9%.

Bác sĩ Anne McTiernan một trong những tác giả của tổng quan cho biết, thông điệp ở đây là phụ nữ nên thực hiện các bước để giảm tỉ lệ ung thư vú. Một số yếu tố nguy cơ ung thư vú là không thể thay đổi như tuổi tác, tiền sử gia đình bị ung thư vú, song những thay đổi lối sống có thể tạo ra sự khác biệt lớn.

BS P.Liên

(Theo healthday)

5 bài tập giảm đau cổ vai gáy cho “dân” văn phòng

Do nhu cầu công việc, các nhân viên văn phòng thường xuyên phải ngồi một chỗ trước máy tính và ít vận động, do đó các bệnh nghề nghiệp như mỏi cổ, đau lưng và vai, tê tay tê chân dần dần sẽ làm phiền bạn. SK&ÐS xin mách bạn một số động tác thể dục tại chỗ đơn giản nhằm khắc phục tình trạng trên.

Bài tập cho cổ

Động tác 1: Ngồi thư giãn trên ghế, mặt hướng về phía trước, đầu thẳng. Dần dần nghiêng đầu về bên phải nhằm làm căng vùng cơ cổ bên trái, thực hiện với mức độ vừa phải, không căng quá mức. Giữ tư thế này từ 10 - 20 giây, từ từ trở lại tư thế ban đầu và thực hiện tương tự cho phía bên trái, 3 lần cho mỗi bên.

Động tác 2: Ngồi thẳng và mặt hướng về phía trước. Sau đó cúi đầu xuống và dừng lại khi cảm thấy phần cơ ở cổ hơi căng nhưng không để căng quá mức. Giữ tư thế này từ 8 - 10 giây, lặp lại 5 lần.

Động tác 3: Ngẩng cao đầu hết cỡ, sau đó cúi đầu xuống sao cho phần cằm chạm vào phần ngực, từ từ xoay đầu theo một đường tròn quanh cổ và lần lượt nghiêng đầu qua hai bên, mỗi bên 15 lần, sau đó, tựa lưng vào ghế, hai tay đặt ở vị tri gáy, thư giãn.

bai tap giam dau co vai gay

Bài tập cho vai

Động tác 1 - Nhún vai: Làm động tác này bất cứ khi nào cảm thấy căng mỏi ở cổ và vai. Hãy ngồi với tư thể thẳng lưng trên ghế, mặt hướng về phía trước, hai tay buông hai bên. Tiếp theo, nâng vai lên theo hướng về phía tai cho đến khi cảm thấy phần cơ ở cổ và vai căng ra, giữ tư thế này trong vòng 5 giây trước khi thả lỏng vai. Lặp lại động tác 3 lần.

Động tác 2 - Uốn vai: Bắt đầu với tư thế ngồi thẳng trên ghế. Sau đó đan các ngón tay lại với nhau, đưa ra sau đầu, giơ cánh tay lên rồi gập lại. Phần cánh tay phía dưới sẽ ngang bằng với vai. Uốn lưng ra phía sau để vai vươn ra cho đến khi cảm thấy hơi căng. Giữ tư thế này khoảng 10 giây và lặp lại 3 lần.

Bài tập cho lưng

Động tác này phải đứng dậy thực hiện. Hai tay chống lên phần lưng phía dưới, sau đó từ từ uốn nhẹ lưng ra phía sau cho đến khi có cảm giác căng ở vùng cơ lưng là được, giữ tư thế đó trong vòng 5 - 10 giây. Sau đó trở lại tư thế ban đầu. Với động tác này, lặp lại nhiều lần và thường xuyên để giảm tình trạng mỏi ở vùng lưng do ngồi lâu.

bai tap giam dau lung

Bài tập cho tay

Động tác 1: Ngồi thẳng, mặt nhìn về phía trước, đặt tay trái lên phía sau cổ. Khuỷu tay hướng về phía trước, dùng tay phải kéo khuỷu tay trái về phía vai phải, làm cho vùng cơ ở tay trái căng ra, bàn tay trái lúc này ở phía sau vai phải. Lặp lại động tác này cho tay phải, 2 lần cho mỗi bên.

Động tác 2: Vẫn với tư thế trên, đan các ngón tay lại, hai tay giương cao thẳng với thân người, lòng hai bàn tay hướng ra phía ngoài. Hãy giữ tư thế này trong khoảng 10 giây và lặp lại vài lần, sự mỏi mệt do ngồi lâu trong một tư thế dường như tan biến.

Bài tập cho chân

Động tác 1: Hai tay giữ chặt hai bên ghế. Duỗi thẳng chân, bàn chân cách mặt đất vài centimet, giữ tư thế này và thực hiện xoay vòng cẳng chân và cổ chân. Thực hiện vài lần cho mỗi chân.

Động tác 2: Ngồi tại ghế, chỉ để phần ngón chân tiếp xúc mặt đất như khi nhón chân lên cao, sau đó, lần lượt chuyển động hai chân và không ngừng co thắt, thư giãn phần cơ ở bắp đùi, giúp cho máu ở hai chân được lưu thông.

Đặng Quân

Thực phẩm giúp ngăn ngừa ung thư vú

7 động tác để có thân hình quyến rũ

Dấu hiệu bạn cần kiểm tra sức khỏe

Khô da

Khô da không chỉ là biểu hiện cơ thể thiếu nước, nó còn có thể do thiếu hụt vitamin, suy dinh dưỡng, huyết áp cao, các vấn đề hormon và thậm chí là suy thận. Bạn cần bổ sung dầu cá, các loại hạt và tinh dầu thực vật vào chế độ ăn.

Bệnh về lợi

Khi lợi bị chảy máu có thể do bạn chải răng mạnh. Tuy nhiên, đây cũng có thể là dấu hiệu bạn thiếu vitamin C.

Thèm đường

Thèm đường có thể do các bệnh về tuyến giáp, mệt mỏi, mãn kinh và thậm chí là nhiễm nấm men..

Khó chịu

Nếu bạn bị chứng mất ngủ, chuột rút và khó chịu, nguyên nhân có thể do thiếu kali và magiê. Cân nhắc việc bổ sung hạnh nhân, cải xoăn, rau bina và thậm chí là chuối.

Thực phẩm nhiều muối

Nếu bạn thèm thực phẩm mặn thì có thể do bạn bị thiếu i-ốt. Cơ thể cố gắng khôi phục sự cân bằng hàm lượng i-ốt thông qua việc ăn muối. Trên thực tế, thậm chí thèm đồ biển cũng có thể do thiếu i-ốt.

Móng tay giòn, dễ gãy

Tình trạng này có thể do thiếu canxi hoặc vitamin B hoặc do rối loạn ăn uống, thiếu biotin và thậm chí là thiểu năng tuyến giáp.

Thèm rau sống

Thèm rau sống có thể là biểu hiện có bệnh về gan hoặc bệnh đường tiêu hóa. Khi gan cần làm sạch, bạn có thể cảm thấy muốn ăn nhiều sa-lát hơn.

Khuỷu tay khô

Thậm chí da khô tạo thành cục chai trên khuỷu tay bạn cũng có thể là dấu hiệu của thiếu vitamin C và vitamin A. Cần ăn cam, bí, mơ và cà rốt.

Thèm thực phẩm chua

Nếu bàng quang hoặc gan cần kích thích, cơ thể bạn có thể gửi tín hiệu qua cảm giác thèm thực phẩm chua. Uống nước chanh hoặc nước nam việt quất thay vì ăn những thực phẩm không lành mạnh có thể gây hại cho dạ dày.

BS Thu Vân

(Theo Boldsky)

Nhầm lẫn đột quỵ và đau nửa đầu: nguy hiểm

Đôi khi cảm giác từ một cơn đau nửa đầu (Migraine) nặng dễ bị nhầm lẫn với những dấu hiệu đột quỵ. Ngược lại, tuy hiếm hoi nhưng đột quỵ cũng có thể có một số triệu chứng không bình thường khiến nó bị chẩn đoán sai như một ca đau nửa đầu.

Một số triệu chứng của đột quỵ và đau nửa đầu Migraine trùng lên nhau và đây là lý do dễ gây nhầm lẫn. Tuy nhiên, cũng có một số khác biệt quan trọng giữa đột quỵ và đau đầu Migraine có thể giúp phân biệt hai căn bệnh này.

Những triệu chứng tương tự dễ nhầm lẫn

Đột quỵ và đau đầu Migraine đều gây nhiều triệu chứng. Cả hai chứng bệnh này đều có thể gây ra cảm giác mất phương hướng, mặc dù sự mất phương hướng của đột quỵ thường do sự mất ý thức, trong khi sự mất phương hướng của cơn nhức đầu Migraine thường gây ra bởi sự xáo trộn của đau đớn.

Cả hai đều có thể gây ra sự thay đổi thị lực hoặc mất thị lực. Sự mất thị lực của đột quỵ thường là mất thị lực một mắt, đôi khi là hai mắt, có khi gây ra song thị. Trong khi sự thay đổi thị lực của chứng đau nửa đầu thường được mô tả như là những chớp lóe ánh sáng. Tuy nhiên, một cơn đau đầu Migraine nặng cũng có thể thực sự gây ra mất thị lực.Thiếu máu não cục bộ tạm thời có thể bị nhầm với cơn đau nửa đầu.

Thiếu máu não cục bộ tạm thời có thể bị nhầm với cơn đau nửa đầu.

Cả hai bệnh đều liên quan đến chóng mặt hoặc cảm giác quay đảo.

Nói chung, cả hai căn bệnh đều tạo ra một cảm giác chung là cảm thấy “khủng khiếp” một cách mơ hồ. Những người bị đau đầu Migraine thường có thể mô tả các triệu chứng của họ một cách chi tiết, trong khi những người bị đột quỵ thường không thể mô tả các triệu chứng của họ và đôi khi không thể giao tiếp.

Chứng đau nửa đầu thường kèm theo đau, trong khi đột quỵ thường không liên quan đến đau. Tuy nhiên, đôi khi đột qụy, đặc biệt là đột quỵ do chảy máu não hoặc vỡ động mạch gây đau. Trong trường hợp này có thể gây khó xác định nguyên nhân đau do cơn đau đầu dữ dội hay là đột quỵ. Thông thường, đau đầu của đột quỵ đột ngột và áp đảo dữ dội, trong khi đau nửa đầu Migraine thường là tăng dần dần.

Đột quỵ thường gây liệt một bên mặt, tê một bên cơ thể, mất thị giác một phần, khó nói hoặc kết hợp các triệu chứng này.

Đau nửa đầu Migraine thường không liên quan đến tình trạng yếu, tê, mất thị lực hoặc khó nói. Tuy nhiên, vẫn có dù hiếm gặp, chứng đau nửa đầu có thể gây ra các triệu chứng thể chất này.

Tăng huyết áp mạn tính là một trong những yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ. Cơn tăng huyết áp đột ngột có thể gây đột quỵ hoặc đau đầu Migraine nếu một người đã có yếu tố nguy cơ này.

Lý do có sự chồng chéo giữa các triệu chứng đau nửa đầu và các triệu chứng của đột quỵ là cả hai đều do sự thay đổi của não.

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa chứng đau nửa đầu và đột quỵ nhiều hơn đáng kể so với những điểm tương đồng.

Sự khác nhau giữa đột quỵ và đau nửa đầu Migraine

Đau nửa đầu là một tình trạng thường xuyên. Đa phần, đau đầu Migraine không gây ra những suy nhược, mất cảm giác hoặc mất thị lực. Tình trạng này thường có liên quan đến các yếu tố kích hoạt như thực phẩm, thay đổi hormon, chu kỳ kinh nguyệt, stress, thiếu ngủ, tiếng ồn lớn và mùi hóa học...

Đột quỵ thường không liên quan đến các yếu tố trong cuộc sống bình thường mà do những thay đổi đột ngột về huyết áp, tim mạch. Các cơn đột quỵ thường xảy ra ở người lớn hơn 60 tuổi và những người có các yếu tố nguy cơ như bệnh tim, tăng huyết áp, rối loạn máu hoặc cholesterol cao. Những yếu tố nguy cơ này thường không liên quan đến chứng đau nửa đầu. Đau đầu Migraine lại thường ở những người từ 20 đến 30 tuổi và khi người nào đó bị đau nửa đầu sau 50 tuổi thì rất không bình thường.

Đau nửa đầu và đột quỵ là hai chứng bệnh liên quan đến xu hướng di truyền. Một người có tiền sử gia đình bị đột quỵ có nhiều khả năng bị đột quỵ hơn, trong khi một người có tiền sử gia đình bị chứng Migraine có nguy cơ bị nhức đầu Migraine cao.

Chứng đau nửa đầu có thể gây đột quỵ không?

Trong vài trường hợp hiếm hoi, đau nửa đầu có thể gây ra một cơn đột quỵ. Đây được gọi là nhồi máu nhanh. Tuy nhiên, may mắn là đại đa số những người bị đau đầu Migraine sẽ không gặp phải biến chứng này.

Đột quỵ có thể là nguyên nhân gây đau nửa đầu?

Một số người sống sót sau đột quỵ có cảm giác đau đầu, nhưng chứng nhức đầu này không được mô tả như nhức đầu Migraine và chúng thường không liên quan đến triệu chứng thần kinh.

Đau đầu Migraine dễ nhầm với cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời

Thiếu máu não cục bộ tạm thời (TIA) không gây tổn thương não vĩnh viễn nhưng nó cũng gây các triệu chứng đột quỵ do lưu lượng máu trong động mạch não tạm thời giảm. Các triệu chứng này kéo dài từ vài phút đến hàng giờ. Do đó, nó có thể gây nhầm lẫn với cơn đau nửa đầu. Chính điều này có thể gây nguy hiểm bởi hầu hết những người bị THA đều có nguy cơ cao đột quỵ sau đó. Và đây là lý do tại sao cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế nếu bạn gặp bất kỳ triệu chứng thần kinh nào khi bạn bị đau đầu. Bác sĩ có thể kiểm tra để phân biệt xem bạn đang gặp THA hay đau đầu Migraine.

Lời khuyên của thầy thuốcKhông phải lúc nào cũng gặp sự nhầm lẫn giữa đau nửa đầu với đột quỵ, tuy nhiên điều này vẫn có thể xảy ra. Nếu bạn không thể biết liệu bạn đang bị đột quỵ, bị tăng huyết áp hay đau đầu Migraine, điều quan trọng là nên đến cơ sở y tế để tránh rủi ro chịu hậu quả nặng nề của đột quỵ.

BS. Nguyễn Thông

Nhức mỏi chân ở trẻ em là bệnh gì?

Con gái tôi 10 tuổi, dạo này mỗi đêm bé hay kêu nhức mỏi hai chân, nên khi đi ngủ tôi phải xoa chân giúp thì bé mới ngủ được. Vậy xin hỏi bé...